Home / VĂN MẪU THPT / Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm

Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm

Đề Bài: Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm

BÀI LÀM

Ai trong chúng ta đều mang trong mình một tinh thần yêu nước. Đất nước là máu thịt, là một phần không thể tách rời trong mỗi con người. Bởi thế, đất nước đã trở thành đề tài quen thuộc của biết bao thế hệ nhà thơ. Trong số ấy, Nguyễn Khoa điềm bằng những tâm tư tình cảm chân thành nhất, thiết tha nhất với đất nước đã sáng tác bài Đất Nước được in trong tập Mặt đường khát vọng năm 1971.Những dòng cảm xúc đối với dải đất hình chữ S đã được tác giả gửi gắm thể hiện ngay từ những dòng thơ đầu tiên.

>> Xem thêm: Phân Tích Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài Đất Nước

Bằng giọng điêu tâm tình thủ thỉ, nhà thơ đã dẫn dắt chúng ta về với những ngày sơ khai , thuở khai thiên lập địa của đất nước:

"Đất nước có tự bao  giờ?"

Một câu hỏi mà chẳng ai có thể chắc chắn đưa cho tác giả một câu trả lời xác thực. Biết bao đời, bao thế hệ chắc hẳn cũng đã đưa ra những câu hỏi như vậy nhưng vẫn còn đang bỏ ngỏ. Nhà thơ chỉ biết rằng:

“ Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi"

Khi ta sinh ra và lớn lên, nhận thức được sự hiện diên của Đất nước thfi đất nước đã có rồi. Đất nước theo ta từ thuở còn nằm nôi đến ngày ta trưởng thành. Đất nước có trong những cái “ ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”, ai lớn lên chẳng từng nghe tới những câu truyện cổ tích “ ngày xửa ngày xưa” mà chẳng rõ từ bao giờ.

Chỉ biết nó đã từ rất xa, rất lâu rồi, những câu chuyện mẹ ru ta ngủ bằng những nhân vật Cô tấm chăm làm bước ra từ quả thị, hay sự tích âu cơ lạc long quân đẻ ra đồng bào ta từ trăm trứng, rồi câu chuyện của những nàng công chúa lộng lẫy luôn nhận được sự giúp đỡ của ông bụt hiền hậu. Thế giới thần tiên ấy đã nuôi dưỡng, chở che tuổi thơ của biết bao tâm hồn.Cùng với tiếng nói trầm ấm của mẹ, những câu chuyện bắt đầu từ “ ngày xửa ngày xưa” ấy đã theo đuổi suốt bao tháng năm.

“ Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc    “

Một hình ảnh giản dị mà rất đỗi thân quen xuất hiện bởi : miếng trầu. Miếng trầu gắn liền với những dịp lễ tết truyền thống của dân tộc, miếng trầu trong những tráp cau của người bà hiền hậu. Nó gắn liền mới thứ linh thiêng, cao quý của dân tộc ta. Bên cạnh đó, miếng trầu cũng chính là lời gửi gắm, chào hỏi của những đôi lứa. Từ xưa tới nay, sự tích trầu cau đã được lưu truyền để nhắc nhở đến tình nghĩa, vợ chồng anh em luôn thắm nồng, sắt son. Đôi lứa nên duyên vợ chồng, cùng nhau lao động, sinh con đẻ cái chính là những nền tảng phát triển cho đất nước. Trải qua suốt bao năm, những ngày tháng yên bình rồi cũng sẽ có những ngày khó khăn, bị giặc xâm chiếm.

Đất nước đã vững bền nhờ những bụi tre đánh giặc, trở thành công cụ đắc lực cho nhân dân Việt nam đứng lên chiến đấu với quân thù. Cây tre được viết trong vào “ cây tre việt nam “ hay được tác giả Nguyễn Duy viết nên bài “ Tre Việt nam” đều thể hiện lên những đức tính tốt đẹp vốn có. Tre kiên cường bất khuất, tre như chính con người đất việt hồn hậu nhưng sẵn sàng cùng nhau đoàn kết mạnh mẽ để giữ vững hòa bình đất nước. Cứ như thế, tre trở thành người bạn song hành cùng sự lớn lên của đất nước.

Nối tiếp dòng cảm xúc, Nguyễn Khoa Điềm không quen nhắc tới hình ảnh của những người cha, người mẹ, người đã luôn chăm lo cho chúng ta:

“ công cha như núi thái sơn

Loading...

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Biết bao khó khăn, mệt nhọc cha mẹ đều không quản ngại. Chỉ cần các con được vui vẻ, trở thành người có ích, lớn lên mạnh khỏe là cha mẹ đã vui lòng. Để có được sự đồng lòng, bền chặt ấy, cha mẹ đã yêu thương nhau từ những điều giản dị chân thật nhất:

dat nuoc

“ Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

Tình cảm của cha mẹ cứ dần dần được bồi đắp qua những khó khăn, hình dáng “ tóc mẹ bới sau đầu” lại càng khiến người phụ nữ trở nên dịu dàng, quyến rũ. Cha mẹ đã cùng nhau trải qua những “ gừng cay muối mặn”, khó khăn có, gian khổ có, vui vẻ cũng có. Nhưng dù thế “ gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau “ cũng như cha mẹ dù thế nào cũng không chia lìa.

Phía sau đất nước, còn có những bàn tay, trái tim của những con người luôn tân tảo, chịu thương chịu khó lao động vì đất nước. ở đâu trên dải đất chữ S đều có những người luôn sẵn sàng hi sinh thân mình, đánh đổi vì dân tộc để cống hiến cả máu xương này

“ Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng

Đất nước có từ ngày đó”

Để làm ra được những bát cơm ngon dẻo, người nông dân đã phải “ xay giã dần sàng”, biết bao công đoạn mới làm ra được những hạt cơm thơm bùi. Thu hoạch những hạt lúa, bát gạo là thấm nhuần biết bao vị mặn của mồ hôi, đắng cay vất vả trên cánh đồng bát ngát. Nhờ có những sự đóng góp ấy, mà đất nước mới được gây dựng nên mỗi ngày. Từng tấc đất tấc vàng, từng cánh đồng lúa được chăm bẵm bởi bàn tay người lao động đều góp phần tạo nên những mảnh đất thuộc về đất nước.

Qua đây, Nguyễn Khoa Điềm cũng khéo léo nhắn nhủ đến thế hệ sau đạo lý “ uống nước nhớ nguồn “, “ ăn quả nhớ kẻ trồng cây” để người sau phải biết trân trọng, gìn giữ những thành quả lớn lao mà người đi trước đã bao công gây dựng, đóng góp.

Chỉ qua khổ đầu của bài thơ Đất nước, độc giả đã cảm nhận được vẻ đẹp và tinh yêu quê hương dân tộc vô bờ của tác giả. Đất nước của chúng ta luôn đẹp đến nao lòng, là chiếc nôi to lớn của cả dân tộc. Đất nước của chúng ta không quá giàu có về vật chất, nhưng những gì bình dị nhất, tình cảm nhất đã tạo nên một đất nước thật sự gần gũi với tất cả mỗi người. Trách nhiệm của thế hệ con cháu là phải luôn nhớ tới cội nguồn của dân tộc, biết trân trọng những công lao của thế hệ ông bà ta để cố gắng xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh.

>> Xem thêm: Soạn Bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm | Soạn Văn Lớp 12

Please follow and like us:

Comments

comments

Loading...

Check Also

Soạn bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Em hãy soạn bài thơ “ Tiếng hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *