Home / VĂN MẪU THPT / Bình Giảng Tám Câu Thơ Đầu Bài Thơ Việt Bắc

Bình Giảng Tám Câu Thơ Đầu Bài Thơ Việt Bắc

Đề Bài: Bình Giảng Tám Câu Thơ Đầu Bài Thơ Việt Bắc

BÀI LÀM

Nhắc tới bài thơ Việt Bắc là gợi ra trong mỗi chúng ta về một hồn thơ Tố Hữu chân thực, giàu cảm xúc. Bài thơ là cuộc đối đáp giữa người chiến sĩ cách mạng về xuôi và người dân Việt Bắc trong cuộc chia tay lịch sử. Cuộc chia li ấy thấm đẫm những giọt nước mắt, nước mắt của sự hạnh phúc khi chiến tranh đã bị đẩy lùi và bên cạnh đó là giọt nước mắt của sự chia tay, những người chiến sỹ Việt Bắc phải rời xa căn cứ địa Việt Bắc , xa những người dân đã trở thành gia đình của họ để trở về với thủ đô. Không gian và thời gian như ngừng trôi để họ có thể gần nhau thêm chút nữa, cho họ nói ra những tâm sự còn chất chứa bấy lâu nay chưa cất lên thành lời

>> Xem thêm: Bình giảng về tám câu đầu của bài thơ Việt Bắc

>> Xem thêm: Phân tích bài Việt Bắc Qua Khổ 3 Của Tác Giả Tố Hữu

>> Xem thêm: Phân Tích Khổ 6 Bài Thơ Việt Bắc Của Tác Giả Tố Hữu

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn mây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

Bốn câu thơ đầu là lời của đồng bào Việt Bắc hỏi người ra đi. Liệu khi trở về miền xuôi họ còn nhớ về quãng thời gian ở Việt Bắc nữa hay không. Tác giả đã khơi rất sâu vào mạch đạo lý ân nghĩa thủy chung của dân tộc để thể hiện tình cảm cách mạng.Câu hỏi đầy ngọt ngào, khéo léo gợi ra khoản thời gian “mười lăm năm “ gắn bó.

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Cặp đại từ xưng hô “mình” và “ta” gợi ra một cảm giác quen thuộc, gần gũi, gắn bó. Cặp đại từ ấy thường xuyên được sử dụng trong ca dao xưa để nói về tình yêu đôi lứa nhưng nay lại được sử dụng để nói về tình quân với dân. Dường như giữa họ không còn khoảng cách . Họ đã trở thành một phần trong cuộc sống của nhau, không thể sống nếu thiếu đi một phần còn lại, giống như “cá không thể sống thiếu nước”.  Họ đã cùng nhau sống và chiến đấu trong suốt mười lăm năm. Mười lăm năm ấy là quãng thời gian trở về với cội nguồn những năm tiền khởi nghĩa. Trong quãng thời gian đầy gian khổ ấy họ đã sát cánh bên nhau trải qua bao chông gai, thử thách để đến được với cuộc sống hòa bình như ngày hôm nay. Điệp từ “nhớ” được láy đi láy lại cùng với lời nhắn nhủ “ mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” vang lên day dứt khôn nguôi. Chỉ trong bốn câu thơ ngắn mà từ “nhớ”, từ “mình” được nhắc tới bốn lần, chính phép lặp ấy đã hòa quyện cùng với nỗi nhớ tạo nên một bản tình ca về tình người, tình quân dân trọn nghĩa vẹn tình.

Dù “mình” có về với thủ đô đi chăng nữa thì “ta” vẫn ở lại đây nơi lưu giữ bao kỉ niệm giữa chúng ta. Đi đến đâu đều có những kỉ niệm giữa “mình” và “ta” “nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”. Hình ảnh “cây” và “núi”, “sông” và “nguồn” là hai cặp hình ảnh thể hiện sự gắn bó không rời và dường như sự gắn bó ấy đã trở thành chân lý và quy luật của cuộc sống. “Cây” luôn luôn sống trên núi, núi nuôi nấng còn cây che chở cho núi. Còn “sông” thì sao? Mọi con sông đều có thượng nguồn, đều có nơi bắt đầu. Tác giả sử dụng hai cặp hình ảnh đó như nhấn mạnh thêm sự gắn bó, mối quan hệ bền chặt khăng khít giữa “mình” với “ta” và dường như mối quan hệ ấy đã trở thành quy luật muôn đời.

bai tho viet bac

Loading...

Bốn câu thơ sau là tiếng lòng của người cán bộ về xuôi hướng về đồng bào Việt Bắc, tiếng lòng của người ra đi bịn rịn, quyến luyến không nỡ xa rời

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Tuy không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn, cùng với hành động “cầm tay nhau” xúc động bồi hồi đã nói lên tình cảm gắn bó giữa “mình” và “ta”. Chưa xa đã cảm thấy nhớ, chưa đi đã không muốn rời. Trong lòng người ra đi cảm thấy bâng khuâng, xao xuyến, không yên tâm về người ở lại. Đôi chân ấy dù bước đi nhưng vẫn bịn rịn khong muốn rời. Trong buổi chia tay ấy nghe văng vẳng có tiếng ai đó như mời gọi, níu kéo không cho muốn “mình” về, tđo có thể là tiếng gọi cũng có thể là tiếng hát. Bài hát về tình yêu về sự gắn bó và ca ngợi ân tình thủy chung mà mười lăm năm qua họ đã có.

Hình ảnh “áo chàm” xuất hiện trong buổi chia tay càng làm cho người ra đi quyến luyến. Đây là màu áo đặc trưng của người dân Việt Bắc. Chính màu “áo chàm” đó đã cùng họ trải qua bao khó khăn gian khổ, cùng họ vượt qua bao thử thách, đã che chở họ khỏi mưa bay bão đạn. Trong lúc chia tay ấy cái “cầm tay” như sợi dây gắn kết họ lại gần nhau lần cuối. Và liệu sau cái cầm tay ấy họ có còn được gặp lại nhau, liệu sao bao lâu họ mới có thể gặp lại nhau đây. Những bàn tay đan vào nhau, xiết chặt lấy nhau quấn quýt không rời, họ đang cố truyền cho nhau hơi ấm dù chỉ là lần cuối. Qua cái nắm tay ấy “mình” và “ta” như hòa vào làm một và dù có xa nhau nhưng trái tim họ vẫn chung một nhịp đập, vẫn luôn cùng nhìn về một hướng – hướng đi có Đảng và cách mạng soi đường. Ở bốn câu thơ sau này tiết tấu 2/2 của thể thơ lục bát bỗng xao dộng trở thành nhịp 2/2/3 nhằm diễn tả thặt đắt tấm lòng người đi với người ở lại. Dấu chấm lửng ở câu cuối như một khoảng trống khó lấp đầy, sự im lặng hàm chứa bao xao xuyến không lời.

Chỉ bằng tám câu thơ lục bát tác giả Tố Hữu đã viết nên khúc dạo đầu của bản tình ca về nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy da diết, gắn bó được viết nên bằng sự đối đáp tình cảm mà đáng yêu giữa “mình” và “ta”. Bản tình ca về nỗi nhớ ấy sẽ còn trường tồn mãi mãi với thời gian và tình yêu giữa “mình” với “ta” sẽ còn mãi và không thể chia lìa

>> Xem thêm: Phân tích khổ thơ đầu bài thơ việt bắc

>> Xem thêm: Bình giảng đoạn đầu bài thơ việt bắc

>> Xem thêm: Những nét chính của trích đoạn Việt Bắc trong sách giáo khoa

Please follow and like us:

Comments

comments

Loading...

Check Also

Soạn bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Em hãy soạn bài thơ “ Tiếng hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *