Home / VĂN MẪU THPT / Bình Giảng Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Bình Giảng Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Đề Bài: Bình giảng bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương

BÀI LÀM

Trong thế giới văn thơ thuở xưa những tác phẩm viết về vợ đã ít, đặc biệt là viết về những người vợ còn sống lại càng hiếm hoi hơn. Riêng nhà thơ Tú Xương ông lại dành riêng một chùm đề tài để  viết về người vợ của ông – bà Tú. Bài thơ Thương vợ như một lời cảm ơn sâu sắc nhất mà chính tác giả muốn gửi tời người vợ của mình. Một người vợ đảm đang, tháo vát, chu đáo, hết lòng vì chồng vì con.

>> Xem thêm: Đôi nét về nhà thơ Trần Tế Xương – Nhà thơ trào phúng

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Bằng những từ ngữ gần gũi, bình dị nhà thơ Tú Xương đã vẽ phác họa cho người đọc chân dung một bà Tú mộc mạc, giản dị, lặn lội đêm ngày kiếm sống nuôi chồng con. Quanh năm suốt tháng bà gắn bó với nơi “mom sông” ấy để kiếm từng bữa ăn về nuôi chồng con. Mom sông là nơi mảnh đất nhô ra trên dòng sông , cũng là một địa điểm ở phía Bắc thành phố Nam Định. Mom sông  là nơi mọi người từ các miền đổ về trao đổi mua bán hàng hóa. Kiếm sống ở cái nơi nay có thể sạt mai có thể đổ như vậy thật là bấp bênh. Ở cái mổm đất chênh vênh ấy, hình ảnh bà Tú dường như càng cô đơn và nhỏ bé. Bà một mình chống cự ở nơi đầu sóng ngọn gió để nuôi sống gia đình.

Trong xã hội phong kiến xưa, người phụ nữ luôn tôn thờ quan niệm “ thờ chồng , nuôi con”. Với người đàn bà ấy “thờ chồng” bao hàm cả nghĩa vụ nuôi chồng. Đó là sự bất công của xã hội cũ, nhưng xét về mức độ đảm đang tháo vát của người vợ như bà Tú thì thật đáng nể phục. Nếu nhà thơ tính gộp lại là sáu cái miệng ăn đang chờ bà Tú thì chúng ta thấy đã là quá nặng gánh cho đôi vai người phụ nữ nhưng đây lại “nuôi đủ năm con với một chồng” PhẢI chăng ông chồng ấy cũng phải nuôi, phải chiều chuộng như những đúa trẻ chăng? Lúc này nhà thơ đã tự ý thức được trách nhiệm của bản thân cũng như cảm giác đồng cảm với sự vất vả của vợ. Điều này càng thể hiện ông là một người chồng thấu hiểu và biết đánh giá một cách xững đáng công lao của vợ.

Những nét vẽ tiếp theo của nhà thơ Tú Xương như khắc thêm phần nào lên khuôn mặt của bà Tú những dấu ấn thời gian và cả sự vất vả ,lo toan về cuộc sống cơm áo gạo tiền.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Nhà thơ Tú Xương sử dụng một hình tượng quen thuộc trong văn chương dân gian nói về người phụ nữ lao động xưa : “Con cò lặn lội bờ ao”, ông không so sánh bà Tú với thân cò mà ông đã đồng điệu hóa họ. Tấm thân mảnh dẻ, yếu ớt của người vợ ngày đêm phải dãi nắng dầm sương để lo cho chồng lo cho con. Tấm thân gầy guộc ấy phải lặn lội sớm trưa quanh năm ngày tháng không một phút ngơi tay. Thân cò lặn lội nơi “quãng vắng”, cái bối cảnh quãng vắng ấy gợi cho người đọc cảm nhận được sự lẻ loi, hiu quạnh, lúc cần không biết nương tựa vào đâu. Nào ai có thể nói trước những rủi ro, những khó khắn có thể ập tới bất cứ lúc nào, liệu tấm thân cò yếu ớt ấy có cứng cáp chống chịu mãi được ở nơi đầu sóng ngọn gió kia không, nếu có chuyện gì xảy ra với người vợ tần tảo ấy thì cuộc sống của người chồng và năm đứa con thơ sẽ ra sao, thật đúng là một hoàn cảnh đầy éo le, bi lụy.

Để có thể viết được những dòng thơ tràn đầy cảm xúc về người vợ của mình hay đến vậy chắc chắn Tú Xương phải rất cảm thông, thậm chí là “thấm” những khó khăn, gian khổ mà vợ mình phải chịu để lo cho gia đình từng miếng cơm manh áo. Ông thương vợ nhưng ông cũng tự trách mình. Mình là một đấng nam nhi, là trụ cột trong gia đình mà mình lại phải dựa vào vợ, làm chồng như vậy có nên chăng? Càng trách mình ông lại càng thương vợ , thương người vợ ấy đã lấy nhầm một người chồng chẳng giúp gì được cho vợ lại làm cho cuộc sống của bà thêm nặng gánh

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

Loading...

thuong vo

Tú Xương quan niệm, vợ chồng âu cũng là do số phận, là do duyên nợ và moi thứ dường như đã sắp đặt từ kiếp trước vậy nên có duyên thì tốt đẹp, hạnh phúc là nợ thì đau khổ cả một đời. Dường như lúc này ông đang đặt mình vào vị trí của bà Tú, đặt chính bản thân ông vào tâm trạng của người vợ để cảm thông và hiểu hơn về những nỗi vất vả mà chính người vợ đang phải trải qua. Lấy chồng như thế này thì cũng là do duyên hoặc nợ thôi, cái số mình đã thế thì cũng đành chấp nhận, cho nên có nghèo, có khổ , có vất vả đến mấy cũng ráng mà chịu. Nhà thơ đã dùng những từ ngữ như “âu đành”, “dám quản công” để nói về sự cam chịu của người vợ. Mọi khó khăn, vất vả bà dồn nén vào tận đáy lòng không dám than nghèo kể khổ đến nửa lời. Từ vất vả bon chen, lặn lội ngoài đời đến mọi lo toan trong gia đình, từ con người của công việc làm ăn , đảm đang tháo vát , chịu thương chịu khó đến cương vị người mẹ đức độ, một người vợ thảo hiền bà đều làm được. Thật đúng là chỉ có bà Tú – đại diện cho những người vợ , người mẹ Việt nam mới có thể làm được những việc vĩ đại tới vậy.

Nếu đặt ở cương vị một người chồng để nói ra những lời lẽ bày tỏ tình cảm thương vợ đã khó, ông Tú còn tự đặt mình vào vị trí của bà Tú để thấu hiểu nỗi niềm và thể hiện tình cảm của mình bằng những lời thơ chân thành , thấm thía. Không những thế ông còn tự trách mình là một người đàn ông vô dụng, ngày ngày ngồi không, làm cho vợ phải nuôi thêm một miệng ăn , điềm nhiên hưởng thụ trong khi vợ phải ngược xuôi tần tảo kiếm sống.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

Câu kết bài thơ như một tiếng chửi, chửi vào cái thói đời ăn ở bạc. Trước hết ông tự chửi chính mình, nếu câu chửi ấy xuất phát từ miệng bà Tú thì quá đã nhưng đây lại xuất phát từ chính người chồng bởi lẽ ông hiểu vợ ông vốn là con gái nhà dòng, chẳng đời nào lại chanh chua, thô tục dám chửi chồng. Nhưng đối với ông thì ông tự trách mình, hận chính bản thân mình đến mức phải bật ra tiếng chửi, thật sự là quá giận. Với ông nhận lỗi thôi chưa đủ, nguyền rủa mình bằng câu chửi mới xững với cái tội mà ông đã gây ra. Ông đã dùng cách chửi dân gian “cha mẹ thói đời” để chửi chính mình. Thói đời ở đây tượng trưng cho bản chất xã hội lúc đó cái xã hội thực dân phong kiến, lối sống ấy làm cho con người trở nên tha hóa. Hóa ra đệ tử của thánh hiền là ông Tú mà cũng bị nhiễm cái thói đời xấu xa ấy. Thật đáng hổ thẹn.

Bài thơ kết thúc bằng câu “có chồng hờ hững cũng như không”. Có chồng cũng như không có. Lúc này ông đang hận chính mình và hận cả cái xã hội thối nát lúc đó. Có điều ông đã nói oan cho mình , ông cho mình là người chồng “hờ hững” không quan tâm tới vợ con nhưng giận thì nói vậy thôi chứ sâu thẳm trong ông, ông thương bầ lắm và nếu không thương không đồng cảm làm sao có thể viết nên bài thơ về người vợ hay đến vậy.

>> Xem thêm: Bình giảng bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương Bài 2

>> Xem thêm: Phân Tích Bài Thương Vợ Trần Tế Xương – Ngữ Văn Lớp 11

Please follow and like us:
Loading...

Check Also

khan thuong nho ai

Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai

Đề Bài: Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai BÀI LÀM Tình yêu luôn …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *